mỹ phẩm xách tay pháp, kem chống nắng pháp, sữa rửa mặt pháp, nước hoa pháp, máy đo độ mặn, máy đo ph máy đo độ ẩm, máy đo ánh sáng, máy đo gió, máy đo âm thanh, máy đo nhiệt độ

Sớm tháo gỡ nút thắt tác động đến thời gian thông quan sản phẩm cá tra xuất khẩu

Đăng lúc: Thứ tư - 07/10/2015 03:26 - Người đăng bài viết: Huỳnh Phước Hải
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm quốc gia về nuôi trồng, sản xuất, chế biến các mặt hàng thủy sản xuất khẩu, trong đó mặt hàng cá Tra, sản phẩm cá Tra đóng vai trò chủ lực xuất khẩu thu về lượng ngoại tệ hàng tỷ USD hàng năm, góp phần quan trọng đảm bảo cán cân thương mại xuất nhập khẩu. Đây là loại hàng hóa thuộc diện khuyến khích đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Theo nguyên tắc quản lý rủi ro hải quan trên Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS thì các lô hàng xuất khẩu thông thường, nhất là hàng hóa thuộc diện khuyến khích xuất khẩu, sẽ được hệ thống phản hồi kết quả phân luồng 1 (luồng xanh) miễn kiểm tra chiếm tỷ lệ rất cao (ước khoảng trên 95%), đồng nghĩa với mức tỷ lệ này được thông quan ngay sau khi doanh nghiệp khai hải quan chính thức (IDC) trong khoảng thời gian từ 1 giây đến 15 giây.
 

Ảnh minh họa
 
Tuy nhiên, theo quy định khoản 2 Điều 7 Nghị định số 36/2014/NĐ-CP ngày 29/4/2014 của Chính phủ và Thông tư số 23/2014/TT-BNNPTNT ngày 29/7/2014 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định khi làm thủ tục xuất khẩu, doanh nghiệp phải đăng ký hợp đồng xuất khẩu sản phẩm cá Tra với Hiệp hội cá Tra Việt Nam. Và cơ quan Hải quan chỉ chấp nhận thông quan đối với những lô hàng của hợp đồng xuất khẩu sản phẩm cá Tra đã được Hiệp hội cá Tra Việt Nam xác nhận, nên buộc cơ quan Hải quan phải thực hiện các biện pháp nghiệp vụ cần thiết chuyển luồng 2 (luồng vàng) đưa mặt hàng cá Tra, sản phẩm cá Tra thuộc diện kiểm tra chi tiết hồ sơ để theo dõi trừ lùi số lượng xuất khẩu trên Giấy đăng ký hợp đồng xuất khẩu sản phẩm cá Tra. Hệ quả có trên 95% lô hàng xuất khẩu cá Tra, sản phẩm cá Tra được hệ thống phản hồi kết quả phân luồng 2 (luồng vàng) trở lên. Đây có thể được coi là hàng rào phi thuế quan cho chính hàng hóa sản xuất trong nước xuất khẩu ra nước ngoài.

Từ hàng hóa thuộc diện khuyến khích xuất khẩu, khả năng tỷ lệ phân luồng 1 (luồng xanh) miễn kiểm tra rất cao, buộc phải chuyển sang luồng 2 (luồng vàng) thuộc diện phải kiểm tra chi tiết hồ sơ. Theo quy định tại Điều 23 Luật hải quan, thời gian hoàn thành việc kiểm tra chi tiết hồ sơ chậm nhất là 02 giờ làm việc kể từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận đầy đủ hồ sơ hải quan (thay vì chỉ thông quan từ 1 đến 15 giây) dẫn đến làm tăng thủ tục hành chính, kéo dài thời gian thông quan, gây tốn kém chi phí đi lại của doanh nghiệp, tăng nguồn nhân lực không chỉ doanh nghiệp, mà cả cơ quan quản lý nhà nước.

Thực tế trên cho thấy có sự mâu thuẫn giữa chính sách khuyến khích chuỗi giá trị từ nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh xuất khẩu sản phẩm cá Tra với các biện pháp kiểm soát trực tiếp, hoặc gián tiếp mặt hàng này theo quy định trên, nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến lợi thế cạnh tranh sản phẩm cùng loại với thị trường các nước trên thế giới. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan thì Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản 9 tháng năm 2015 đạt 4,74 tỷ USD, giảm 17,1% so cùng kỳ năm 2014 (công văn số 8912/TCHQ-VP ngày 29/9/2015).

Nhằm hiện thực hóa các chủ trương, chính sách pháp luật tạo thuận lợi thương mại, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng, minh bạch giữa các ngành hàng xuất khẩu, giữa các doanh nghiệp, Hiệp hội cá Tra Việt Nam nên sớm tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề đánh giá tổng thể, khách quan về hiệu quả phương thức đăng ký hợp đồng xuất khẩu trước khi đăng ký làm thủ tục hải quan để sớm có báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, sửa đổi, bổ sung theo hướng: Bãi bỏ quy định “Cơ quan hải quan chỉ chấp nhận thông quan đối với những lô hàng của hợp đồng xuất khẩu sản phẩm cá Tra đã được Hiệp hội cá Tra Việt Nam xác nhận”, mà nên giao cho doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về đăng ký hợp đồng xuất khẩu sản phẩm cá Tra với Hiệp hội cá Tra Việt Nam. Hiệp hội cá Tra có trách nhiệm đôn đốc, nhắc nhở, theo dõi và thực hiện kiểm tra sau về tính tuân thủ pháp luật của các thành viên trong Hiệp hội.

Giải pháp trên không những tạo sự thống nhất, đồng bộ với pháp luật hải quan (vì pháp luật hải quan không quy định phải có hợp đồng khi làm thủ tục xuất khẩu, thông quan hàng hóa), mà còn đảm bảo rút ngắn đáng kể thời gian thông quan, giảm chi phí doanh nghiệp, giảm nguồn lực quản lý của cơ quan hải quan; Đáp ứng nguyện vọng của đa số doanh nghiệp nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh xuất khẩu cá Tra, sản phẩm cá Tra; Đồng thời phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ./.
Tác giả bài viết: Tiến Dũng - Chi cục HQCK Cảng Đồng Tháp
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc