Xem Video Clip

Mời bạn xem qua Video Clip HQĐT

1. Clip Nhạc Hải quan

2. Clip Biên niên sử 35 năm

Nhân dịp kỷ niệm ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh Cần Thơ (VCCI Cần Thơ) tổ chức buổi lễ tôn vinh “Doanh nhân vì cộng đồng Đồng bằng sông Cửu Long”, “Doanh nghiệp phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long”, “Doanh nhân tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu Long năm 2018”, “Doanh nghiệp tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu Long năm 2018” vào chiều 11/10, tại thành phố Cần Thơ.

(HQ Online)- Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Hòa Bình vừa ký quyết định tặng Bằng khen của Thủ tướng cho 3 cá nhân thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) về thành thành tích trong công tác điều tra, phát hiện và tổ chức bắt giữ vụ sang mạn trái phép hơn 500m3 xăng tại vùng biển Sóc Trăng vào tháng 8/2017.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Bí thư - Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng - Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, Đảng ủy Tổng cục Hải quan và phát động của Đảng ủy, Ban Lãnh đạo Cục, Công đoàn Cục Hải quan Đồng Tháp; 57/137 công chức, nhân viên các đơn vị thuộc, trực thuộc Cục đã hăng hái đăng ký tham gia hiến máu nhân đạo nhân kỷ niệm 20 năm ngày “Toàn dân hiến máu tình nguyện” (07/4/2000-07/4/2020).

Việc hiến máu được các tình nguyện viên thực hiện tại Nhà Văn hóa Lao động tỉnh Đồng Tháp (ngày 07/5/2020), Trung tâm Văn hóa huyện Tân Hồng (ngày 15/5/2020) và Hội trường Khối vận huyện Cao Lãnh (ngày 17/5/2020).

cuc truong

180520202

180520203

Ảnh: Công chức Hải quan Đồng Tháp tham gia hiến máu

Phong trào hiến máu tình nguyện được Đảng ủy, Lãnh đạo Cục, Công đoàn Cục Hải quan Đồng Tháp rất quan tâm, phát động đến toàn thể công chức, nhân viên. Trong đợt hiến máu tình nguyện này có đồng chí Cục trưởng Cục Hải quan Đồng Tháp và nhiều Lãnh đạo các đơn vị thuộc, trực thuộc Cục tham gia.

Thông qua việc tích cực hưởng ứng, tham gia phong trào hiến máu tình nguyện, công chức, nhân viên Cục Hải quan Đồng Tháp đã thể hiện nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về trách nhiệm, tình cảm đối với cộng đồng và xã hội; góp phần lan tỏa thông điệp “Mỗi giọt máu cho đi - Một cuộc đời ở lại” của ngày hiến máu tình nguyện năm 2020.  

Hồng Diễm

Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 25/7/2020, Chi cục Hải quan cửa khẩu Dinh Bà phối hợp với Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Dinh Bà tuần tra kiểm soát tuyến đường hướng đi bửng Năm Hăng, khi đến ngã ba thuộc khu vực ấp Đuôi Tôm, xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, phát hiện xe tải biển số 66C-049.65 chở một chiếc máy gặt đập liên hợp đã qua sử dụng. Nghi chiếc xe tải biển số 66C-049.65 chở chiếc máy gặt đập liên hợp nhập lậu, lực lượng ra hiệu dừng lại để kiểm tra phát hiện trên xe đang vận chuyển máy gặt đập liên hợp đã qua sử dụng hiệu KUBOTA; Type: DC-70; Model: H-KH; Serial: 506105; Số khung: DC-70H-KH 506105; Số máy: V2403-BHW3978 Made in THAILAND (Xuất xứ Thái Lan).

Tiếp theo vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 25/7/2020, Chi cục Hải quan cửa khẩu Dinh Bà tiếp tục phối hợp với lực lượng Đồn Biên phòng Thông Bình và Công an xã Thông Bình tổ chức kiểm soát trên tuyến đường tuần tra biên giới khu vực ấp Thị, xã Thông Bình huyện Tân Hồng tỉnh Đồng Tháp, phát hiện bên ngoài cụm dân cư Ba Lê Hiếu (về hướng Thông Bình) một chiếc máy gặt đập liên hợp đỗ bên lề đường, nghi chiếc máy gặt đập liên hợp nêu trên là hàng hóa nhập lậu, lực lượng phối hợp tiến đến để kiểm tra. Sau khi nhiều lần thông báo tại chỗ tìm chủ sở hữu, nhưng không có ai đến nhận số hàng hóa trên (máy gặt đập liên hợp) là của mình. Bước đầu kiểm tra sơ bộ, lực lượng phát hiện chiếc máy gặt đập liên hợp có nguồn gốc ở nước ngoài. Giữ nguyên trạng tang vật như trên, lực lượng phối hợp tiến hành mời hai người dân địa phương cùng áp tải về Trụ sở Chi cục Hải quan cửa khẩu Dinh Bà để chứng kiến kiểm tra thực tế tang vật vi phạm nói trên. Kết quả kiểm tra:  Máy gặt đập liên hợp đã qua sử dụng: 01 (một) chiếc; Hiệu KUBOTA; Type: DC-70; Model: H-KH; Serial: 503715; Số khung: DC-70H-KH 503715; Số máy: V2403-BGN2006; Made in THAILAND (Xuất xứ Thái Lan).

30 07 2020 03

 Lực lượng chức năng kiểm tra tang vật vi phạm

Cả hai máy gặt đập liên hợp nêu trên đều là hàng đã qua sử dụng, không có giấy tờ chứng minh là hợp pháp, nhập trái phép. Chi cục Hải quan cửa khẩu Dinh Bà ra quyết định tạm giữ, đang phối hợp các Ngành chức năng xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

                                                                                                                                               Đặng Văn Tiến - Chi cục HQCK Dinh Bà

 

​“Đề án cải cách mô hình kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu” (gọi tắt là Đề án) vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt mới đây theo Quyết định số 38/QĐ-TTg ngày 12/01/2021. Theo đó, đề án đưa ra 7 cải cách lớn, nhằm cải cách thực chất công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa nhập khẩu, giảm chi phí, giảm thời gian cho doanh nghiệp, phát huy trách nhiệm của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Cải cách 1: Giao cơ quan hải quan là đầu mối trong kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu

Theo Quyết định số 38/QĐ-TTg, cơ quan hải quan sẽ là đầu mối thực hiện kiểm tra chất lượng (KTCL), kiểm tra an toàn thực phẩm (ATTP) đối với hàng hóa nhập khẩu tại cửa khẩu. Cơ quan hải quan sẽ tiếp nhận hồ sơ đăng ký KTCL, kiểm tra ATTP hàng hóa nhập khẩu; quyết định phương thức kiểm tra (kiểm tra chặt, kiểm tra thông thường, kiểm tra giảm); thực hiện kiểm tra hồ sơ.

Trường hợp hàng hóa phải lấy mẫu để chứng nhận hợp quy/giám định thì thực hiện chứng nhận hợp quy/giám định tại tổ chức chứng nhận/giám định hoặc các đơn vị, tổ chức của cơ quan hải quan được bộ quản lý ngành, lĩnh vực chỉ định theo lựa chọn của người khai hải quan.

Các đơn vị, tổ chức của cơ quan hải quan được thực hiện chứng nhận hợp quy/giám định khi có bộ máy tổ chức và năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với tổ chức chứng nhận sự phù hợp, được công nhận hoạt động theo quy định của Luật Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và được các bộ quản lý ngành, lĩnh vực chỉ định.

Kết quả KTCL, kiểm tra ATTP của cơ quan hải quan là cơ sở để người khai hải quan thực hiện thủ tục hải quan. Trường hợp không nhất trí với kết quả KTCL, kiểm tra ATTP của cơ quan hải quan, người khai hải quan thực hiện khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Cải cách 2: Áp dụng đồng bộ 3 phương thức kiểm tra cho cả lĩnh vực KTCL, kiểm tra ATTP nhằm cắt giảm số lô hàng nhập khẩu phải kiểm tra

Đề án đề ra việc áp dụng đồng bộ 3 phương thức kiểm tra gồm: Kiểm tra chặt ( là việc kiểm tra hồ sơ kết hợp lấy mẫu chứng nhận, giám định, kiểm nghiệm); Kiểm tra thông thường (là việc kiểm tra hồ sơ đăng ký KTCL, kiểm tra ATTP) và kiểm tra giảm (là việc kiểm tra hồ sơ ngẫu nhiên không quá 5% trên tổng số lô hàng thuộc diện kiểm tra giảm của năm liền kề trước đó) cho cả lĩnh vực KTCL và kiểm tra ATTP.

Hàng hóa đã có 03 lần liên tiếp đạt yêu cầu nhập khẩu theo phương thức kiểm tra chặt được chuyển sang phương thức kiểm tra thông thường; hàng hóa đã có 03 lần liên tiếp đạt yêu cầu nhập khẩu theo phương thức kiểm tra thông thường được chuyển sang phương thức kiểm tra giảm.

Doanh nghiệp không phải gửi văn bản yêu cầu để được áp dụng kiểm tra giảm mà hệ thống công nghệ thông tin và cơ quan kiểm tra nhà nước tự động xác định hàng hóa được miễn giảm kiểm tra.

Việc áp dụng phương thức kiểm tra và chuyển đổi phương thức kiểm tra phụ thuộc vào mức độ rủi ro, khả năng gây mất an toàn của hàng hóa nhập khẩu (ví dụ, đối với hàng hóa có độ rủi ro cao như vật liệu nổ, thuốc thú y... phải kiểm tra chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo chất lượng hàng hóa).

Cải cách 3: Đơn giản hóa thủ tục KTCL, kiểm tra ATTP đối với hàng hóa nhập khẩu

Với nội dung này, cơ quan hải quan sẽ thực hiện đồng thời thủ tục nhập khẩu hàng hóa và thủ tục KTCL, kiểm tra ATTP, doanh nghiệp chỉ thực hiện với một đầu mối là cơ quan hải quan.

Hàng hóa nhập khẩu được phân loại vào các quy trình kiểm tra khác nhau dựa trên các phương thức kiểm tra theo hướng đơn giản dần trên cơ sở ứng dụng tối đa công nghệ thông tin. Hệ thống tự động quyết định đối tượng được miễn, giảm kiểm tra, doanh nghiệp không phải thực hiện thủ tục đề nghị miễn, giảm kiểm tra.

Cải cách này sẽ giúp cắt giảm trình tự, thủ tục và thời gian thông quan hàng hóa (cắt giảm 3 bước thủ tục trong 10 bước đối với quy trình KTCL, cắt giảm 2 bước thủ tục trong 5 bước đối với quy trình kiểm tra ATTP). Cụ thể:

Bảng 1: Quy trình kiểm tra chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu

Bước

Quy trình hiện tại

(Bộ quản lý ngành, lĩnh vực thực hiện KTCL)

Quy trình Mô hình mới

(Hải quan thực hiện KTCL)

1.

Bộ quản lý ngành, lĩnh vực: Tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra chất lượng

Hải quan: Tiếp nhận hồ sơ đăng ký tờ khai hải quan, kèm hồ sơ đăng ký kiểm tra chất lượng

2.

Bộ quản lý ngành, lĩnh vực:  Xử lý hồ sơ đăng ký kiểm tra chất lượng

Hải quan:  Cơ quan hải quan xử lý hồ sơ đăng ký kiểm tra chất lượng (kết hợp xử lý hồ sơ hải quan)

3.

Doanh nghiệp: Đề nghị tổ chức chứng nhận/giám định được chỉ định thực hiện chứng nhận hợp quy/giám định hàng hóa tại cửa khẩu

Hải quan:  Gửi yêu cầu Tổ chức chứng nhận/giám định được chỉ định thực hiện chứng nhận hợp quy/giám định

4.

Tổ chức chứng nhận/giám định: Thực hiện chứng nhận hợp quy/giám định

Tổ chức chứng nhận/giám định: Thực hiện chứng nhận hợp quy/giám định

5.

Tổ chức chứng nhận/giám định: Thông báo kết quả chứng nhận hợp quy/giám định cho doanh nghiệp

Tổ chức giám định được chỉ định: Thông báo kết quả chứng nhận hợp quy/giám định cho cơ quan hải quan

6.

Doanh nghiệp: Nộp kết quả chứng nhận hợp quy/giám định do tổ chức chứng nhận/giám định thực hiện cho Bộ, ngành để kiểm tra

(*)Trường hợp Bộ, ngành trực tiếp thử nghiệm bỏ qua bước này

Bước cắt giảm

7.

Bộ quản lý ngành, lĩnh vực: Kiểm tra lại kết quả chứng nhận/giám định do tổ chức chứng nhận/giám định thực hiện hoặc trực tiếp thử nghiệm mẫu khi cần thiết

Hải quan: Cơ quan hải quan kiểm tra hồ sơ kiểm tra chất lượng và kết quả chứng nhận/giám định (kết hợp kiểm tra hồ sơ hải quan). Trường hợp cần thiết, cơ quan hải quan trực tiếp lấy mẫu để thử nghiệm

8.

Bộ quản lý ngành, lĩnh vực: Thông báo kết quả kiểm tra chất lượng cho người nhập khẩu

Bước cắt giảm

9.

Doanh nghiệp: Nộp kết quả kiểm tra chất lượng cho cơ quan hải quan để làm thủ tục nhập khẩu

Bước cắt giảm

10.

Hải quan: Thông quan

Hải quan:  Thông báo kết quả kiểm tra chất lượng và thông quan

(Gộp bước 8 và 10)

Như vậy, doanh nghiệp đã cắt giảm được 3 bước thủ tục gồm: (i) Doanh nghiệp nộp kết quả chứng nhận hợp quy/giám định do tổ chức chứng nhận/giám định thực hiện cho cơ quan kiểm tra chất lượng để kiểm tra lại; (ii) Doanh nghiệp nhận thông báo kết quả kiểm tra chất lượng từ Bộ quản lý ngành, lĩnh vực; (iii) Doanh nghiệp nộp kết quả kiểm tra chất lượng do Bộ quản lý ngành, lĩnh vực cấp cho cơ quan hải quan để làm thủ tục nhập khẩu.

Thực chất, theo Mô hình mới, doanh nghiệp chỉ phải đăng ký kiểm tra chất lượng với cơ quan hải quan, lựa chọn tổ chức giám định và thông báo cho cơ quan hải quan, thông quan hàng hóa nếu hàng hóa đạt chất lượng. Doanh nghiệp không phải đi lại giữa cơ quan kiểm tra nhà nước và cơ quan hải quan, từ đó giảm chi phí, thời gian cho doanh nghiệp.

Bảng 2:  Quy trình kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu 

Bước

Quy trình hiện tại

(Cơ quan được Bộ giao/chỉ định thực hiện KTATTP)

Quy trình Mô hình mới

(Hải quan thực hiện KTATTP)

1.

Cơ quan được Bộ giao/chỉ định: Tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra an toàn thực phẩm

Hải quan: Tiếp nhận hồ sơ đăng ký tờ khai hải quan, kèm hồ sơ đăng ký kiểm tra an toàn thực phẩm

2.

Cơ quan được Bộ giao/chỉ định:   kiểm tra hồ sơ đăng ký kiểm tra an toàn thực phẩm

Hải quan:  Kiểm tra hồ sơ đăng ký kiểm tra an toàn thực phẩm (kết hợp kiểm tra hồ sơ hải quan)

3.

Cơ quan được Bộ giao/chỉ định:   Thông báo kết quả kiểm tra an toàn thực phẩm cho người nhập khẩu

Bước cắt giảm

4.

Doanh nghiệp: Nộp kết quả kiểm tra an toàn thực phẩm cho cơ quan hải quan để làm thủ tục nhập khẩu

Bước cắt giảm

5.

Hải quan: Thông quan

Hải quan:  Thông báo kết quả kiểm tra an toàn thực phẩm và thông quan

(Gộp bước 3 và 5)

Đối với quy trình kiểm tra ATTP, doanh nghiệp cắt giảm được 2 bước thủ tục, gồm: (i) Doanh nghiệp nhận thông báo kết quả kiểm tra an toàn thực phẩm từ cơ quan được Bộ giao/chỉ định; (ii) Doanh nghiệp nộp kết quả kiểm tra an toàn thực phẩm do cơ quan được Bộ giao/chỉ định cấp cho cơ quan hải quan để làm thủ tục nhập khẩu.

Theo Mô hình mới, doanh nghiệp chỉ phải đăng ký kiểm tra an toàn thực phẩm với cơ quan hải quan và thông quan hàng hóa nếu hàng hóa đạt yêu cầu về an toàn thực phẩm. Doanh nghiệp không phải đi lại giữa cơ quan được Bộ giao/chỉ định và cơ quan hải quan, từ đó giảm chi phí, thời gian cho doanh nghiệp.

Cải cách 4: Thực hiện kiểm tra theo mặt hàng để cắt giảm số lượng các lô hàng phải kiểm tra

Một trong những nội dung cải cách của Đề án là áp dụng phương thức kiểm tra, chuyển đổi phương thức kiểm tra từ kiểm tra chặt sang kiểm tra thông thường, từ kiểm tra thông thường sang kiểm tra giảm thực hiện đối với hàng hóa giống hệt, không phân biệt nhà nhập khẩu để cắt giảm một số bước kiểm tra không cần thiết và cắt giảm tỷ lệ kiểm tra đối với cùng một mặt hàng. Người nhập khẩu chịu trách nhiệm với lô hàng nhập khẩu và sẽ bị xử lý theo quy định nếu hàng hóa không đạt chất lượng.

Cải cách 5: Áp dụng đầy đủ, thực chất nguyên tắc quản lý rủi ro trong KTCL, kiểm tra ATTP đối với hàng hóa nhập khẩu để bảo đảm vai trò quản lý nhà nước và nâng cao tính tuân thủ của doanh nghiệp

Nội dung của cải cách này là áp dụng đầy đủ, thực chất nguyên tắc quản lý rủi ro trong KTCL, kiểm tra ATTP đối với hàng hóa nhập khẩu, bao gồm: đánh giá theo tiêu chí lựa chọn đối với nhà xuất khẩu, nhà sản xuất ở nước ngoài; đánh giá tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; xây dựng Danh mục hàng hóa rủi ro của từng lĩnh vực quản lý chuyên ngành;

Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực phối hợp cung cấp cho cơ quan hải quan các thông tin rủi ro để thực hiện áp dụng quản lý rủi ro “tích hợp” trong KTCL, kiểm tra ATTP. Cơ quan hải quan thực hiện KTCL, kiểm tra ATTP trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm hoặc ngẫu nhiên (không quá 5%) để đánh giá tuân thủ pháp luật của người khai hải quan.

Cải cách 6: Bổ sung đối tượng được miễn KTCL, kiểm tra ATTP

Áp dụng thống nhất các trường hợp miễn KTCL, kiểm tra ATTP trên cơ sở tổng hợp các trường hợp miễn kiểm tra tại Nghị định số 15/2018/NĐ-CP, Nghị định số 74/2018/NĐ-CP, Nghị định số 85/2019/NĐ-CP; bổ sung, mở rộng một số trường hợp miễn phù hợp với thực tiễn; công nhận, thừa nhận hàng hóa đã được kiểm tra tại nguồn, hàng hóa được sản xuất theo công nghệ tiên tiến và có xuất xứ từ những nước, vùng lãnh thổ có tiêu chuẩn chất lượng cao.

19 trường hợp được miễn KTCL, miễn kiểm tra ATTP theo Quyết định số 38/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ:

1. Tài sản di chuyển của tổ chức cá nhân trong định mức miễn thuế; quà biếu, quà tặng trong định mức miễn thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế;

2. Hàng hóa nhập khẩu trong định lượng miễn thuế theo quy định của pháp luật phục vụ cho công tác và sinh hoạt của cá nhân/tổ chức nước ngoài được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao;

3. Hàng hóa quá cảnh, chuyển khẩu, trung chuyển, tạm nhập, tái xuất, từ nước ngoài gửi vào kho ngoại quan để xuất ra nước ngoài;

4. Hàng hóa là mẫu hàng để quảng cáo không có giá trị sử dụng, hàng mẫu thử nghiệm hoặc nghiên cứu có số lượng phù hợp với mục đích thử nghiệm hoặc nghiên cứu có xác nhận của tổ chức, cá nhân;

5. Hàng hóa tạm nhập để trưng bày hội chợ, triển lãm;

6. Hàng hóa tạm nhập khẩu để bán tại cửa hàng miễn thuế;

7. Hàng hóa trao đổi của cư dân biên giới trong định mức miễn thuế;

8. Hàng hóa nhập khẩu gửi qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh có trị giá hải quan được miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế;

9. Hàng hóa nhập khẩu tại chỗ;

10. Hàng nhập khẩu để sửa chữa, tái chế;

11. Hàng nhập khẩu chuyên dùng cho mục đích an ninh, quốc phòng;

12. Hàng hóa đã được cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm (đối với hàng hóa thuộc diện phải kiểm tra an toàn thực phẩm);

13. Hàng hóa là sản phẩm, nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu;

14. Hàng hóa là sản phẩm, nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu để phục vụ trực tiếp cho việc sản xuất của người nhập khẩu;

15. Hàng hóa nhập khẩu là hàng đơn lẻ để bảo hành, thay thế; hàng hóa là bộ phận của dây chuyền thiết bị đồng bộ;

16. Hàng hóa nhập khẩu từ nhà sản xuất đã được cơ quan có trách nhiệm của Việt Nam kiểm tra tại nguồn, do các bộ quản lý ngành, lĩnh vực công bố theo từng thời kỳ;

17. Hàng hóa được sản xuất theo công nghệ tiên tiến và có xuất xứ từ những nước, vùng lãnh thổ có tiêu chuẩn chất lượng cao thể hiện qua các nhãn chất lượng (ví dụ: hàng hóa được gắn nhãn CE, KC, FDA...) do các bộ quản lý ngành, lĩnh vực công bố theo từng thời kỳ;

18. Hàng hóa nhập khẩu phục vụ yêu cầu khẩn cấp theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

19. Hàng hóa nhập khẩu khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành (nếu có).

Cải cách 7: Ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin để triển khai mô hình mới

Theo đó, đề án sẽ kế thừa lại phần thiết kế các chức năng xử lý dữ liệu thuộc hệ thống xử lý chuyên ngành và chuyển luồng dữ liệu từ Cổng thông tin một cửa quốc gia trực tiếp tới hệ thống thông quan hải quan, các hệ thống chuyên ngành tiếp tục chia sẻ thông tin hiện có và chia sẻ thêm thông tin thông quan từ phía cơ quan hải quan để phục vụ công tác quản lý nhà nước của các bộ quản lý ngành, lĩnh vực.

Đồng thời, Cổng thông tin một cửa quốc gia, hệ thống thông quan tự động và hệ thống quản lý rủi ro cũng được nâng cấp để bổ sung các tính năng mới (Hỗ trợ doanh nghiệp xác định hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành; hỗ trợ doanh nghiệp công bố tiêu chuẩn/quy chuẩn áp dụng đối với hàng hóa; kết nối và chia sẻ hồ sơ, dữ liệu cho các bên liên quan; phân luồng kiểm tra chuyên ngành kết hợp với phân luồng kiểm tra hải quan; cung cấp các chỉ dẫn cho doanh nghiệp để thực hiện các công đoạn trong kiểm tra chuyên ngành kết hợp với kiểm tra hải quan; lấy mẫu, giao nhận mẫu và quản lý mẫu...).

Đứng trước yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng, giao lưu thương mại quốc tế ngày càng phát triển như hiện nay, việc cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động trao đổi thương mại qua biên giới trở thành xu hướng tất yếu, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm đã được Chính phủ tập trung chỉ đạo trong những năm qua, thể hiện cụ thể tại các Nghị quyết số 19/NQ-CP các năm, Nghị quyết số 99/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2019, 2020 về cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Riêng đối với hoạt động xuất nhập khẩu, Chính phủ đã đặt ra yêu cầu phải cải cách toàn diện các quy định về hoạt động kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng quản lý rủi ro, đơn giản hóa quy trình, hồ sơ, thủ tục kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu, giảm đầu mối tiếp xúc giữa doanh nghiệp với các cơ quan, tổ chức; cắt giảm chi phí, thời gian thông quan hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp; phù hợp với thông lệ quốc tế, các Hiệp định mà Việt Nam là thành viên; bảo vệ môi trường, quyền lợi và sức khỏe cộng đồng, bảo vệ an toàn kinh tế, an ninh quốc gia; nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, của doanh nghiệp và của quốc gia. Đề án “Cải cách công tác kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu” đã đáp ứng được yêu cầu, chỉ đạo nêu trên.

Dự án Tạo Thuận lợi Thương mại do USAID tài trợ đã đánh giá tác động của Đề án về mặt pháp lý và thủ tục hành chính. Theo đó, Đề án đã đơn giản hóa quy trình và giảm thiểu thủ tục KTCL và kiểm tra ATTP. Thể hiện ở quy trình kiểm tra được cắt giảm một số bước so với mô hình hiện tại nhờ vào việc doanh nghiệp không cần phải lấy kết quả kiểm tra từ cơ quan kiểm tra thuộc bộ quản lý ngành, kết quả giám định để nộp cho cơ quan hải quan; không cần xin giấy xác nhận để được miễn kiểm tra do cơ quan hải quan đã có dữ liệu về lịch sử kiểm tra, hệ thống tự động cập nhật hàng hóa, doanh nghiệp được áp dụng miễn giảm kiểm tra.

Đồng thời, Đề án đã góp phần đơn giản hóa thủ tục kiểm tra nộp trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, hồ sơ đã có trong bộ hồ sơ hải quan hoặc trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, doanh nghiệp không cần phải nộp cho cơ quan hải quan giúp giảm bớt các giấy tờ chồng chéo giữa các lần kiểm tra, giữa hồ sơ hải quan và hồ sơ KTCL, kiểm tra ATTP; cũng như giúp giảm gánh nặng KTCL, kiểm tra an ATTP. Theo mô hình mới, tỷ lệ lô hàng cần kiểm tra sẽ giảm do áp dụng phương pháp kiểm tra thông thường và kiểm tra giảm một cách hiệu quả và thực chất hơn; thời gian thông quan sẽ được rút ngắn do tỷ lệ lô hàng cần kiểm tra và thủ tục và quy trình kiểm tra được đơn giản hóa. Theo đó, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được thêm chi phí và thời gian.

Đề án đã áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro một cách toàn diện hơn. Điều này được thể hiện ở việc xác định phạm vi và phương pháp kiểm tra dựa vào từng mặt hàng (thay vì chỉ dựa vào đối tượng chủ hàng như mô hình hiện nay). Việc thay đổi cách tiếp cận này sẽ làm tăng số lượng đối tượng đủ điều kiện áp dụng phương pháp kiểm tra thông thường (kiểm tra hồ sơ); kiểm tra giảm (chỉ kiểm tra ngẫu nhiên tối đa 5% trong tổng khối lượng hàng hóa phải kiểm tra giảm). Việc kiểm tra theo mặt hàng phù hợp với quy định do Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định quản lý chất lượng dựa trên quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn do nhà sản xuất công bố áp dụng, chưa quy định theo nhà nhập khẩu.

Đề án cũng giúp tăng cường tính tự nguyện tuân thủ của doanh nghiệp với việc kiểm tra ngẫu nhiên. Việc lựa chọn ngẫu nhiên 5% để KTCL và kiểm tra ATTP, cộng thêm với việc thực thi quy định và các chế tài xử lý không tuân thủ, sẽ khuyến khích việc tuân thủ tự nguyện của các doanh nghiệp. Cơ quan quản lý sẽ thực hiện tốt vai trò quản lý của mình, đáp ứng được yêu cầu vừa tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu vừa tăng cường hiệu quả kiểm soát rủi ro.

Cùng với việc tăng cường tính minh bạch và chia sẻ thông tin giữa các Bộ, ngành, việc đăng ký kiểm tra, trả kết quả kiểm tra, giám định của các các nhân, tổ chức liên quan được thực hiện trên Cổng thông tin một cửa quốc gia giúp thông tin được minh bạch, tăng cường kết nối thông tin giữa các các Bộ ngành.

Ngoài ra, Đề án sẽ góp phần tối đa hóa vai trò của lĩnh vực tư nhân trong kiểm nghiệm và đánh giá sự phù hợp do doanh nghiệp được lựa chọn tổ chức đánh giá sự phù hợp để thử nghiệm, giám định hàng hóa tại cửa khẩu.

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hải quan

Giữa bối cảnh Việt Nam đang chuyển mình theo lộ trình chính phủ số, xã hội số và kinh tế số, vấn đề ưu tiên hàng đầu, góp phần tạo nền móng vững chắc cho công cuộc chuyển đổi số quốc gia chính là an toàn an ninh mạng. 

2

Ảnh: PV

Mới đây trong ngày 6/12, Bộ Công an thông báo đã phát hiện ra một phần mềm gián điệp được sử dụng nhằm lừa đảo, trộm cắp, chiếm đoạt tài sản của người dùng điện thoại hệ điều hành Android bằng cách giả danh xây dựng ứng dụng điện thoại mang tên Bộ Công an. Sự cả tin vào ứng dụng mới khiến hàng chục người ở Đà Nẵng, Huế, An Giang… đã bị lừa đảo và bị chiếm đoạt hàng trăm tỉ đồng trong tài khoản ngân hàng mang tên phần mềm này.

Câu chuyện này cho thấy, bối cảnh con người càng sử dụng nhiều các thiết bị nối mạng thì ai cũng có thể một phút sơ xuất mà trở thành nạn nhân trong môi trường số.

Vậy chúng ta phải làm gì để an toàn trong môi trường số? Đó cũng là nội dung cuộc hội thảo “An toàn an ninh mạng Make in Việt Nam – Yếu tố then chốt trong chuyển đổi số quốc gia” do Bộ TT&TT tổ chức vào ngày 2/12/2020.

Tấn công có chủ đích gia tăng

Trong cuộc “di cư” từ thế giới thực đến thế giới ảo này, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác đã có trong tay nhiều công nghệ mới để phục vụ cho cuộc di chuyển ấy như Data Driven (hành vi thu thập dữ liệu để phân tích thói quen, hành vi… của những người thuộc tập dữ liệu đó nhằm một mục đích cụ thể); IoT (công nghệ giúp kết nối vạn vật để tạo ra thành phố thông minh, giao thông thông minh,….); Mobility (Công nghệ di động giúp con người có thể giao tiếp, thao tác làm việc từ bất kỳ đâu trên nền tảng thiết bị di động); Automation (Tự động hóa các dây truyền phức tạp tối ưu hóa sức lao động của con người)… Ví dụ trong năm 2020, chỉ riêng trong lĩnh vực IoT đã có tới 24 tỷ thiết bị kết nối với internet và cứ mỗi giây lại có khoảng 260 thiết bị gia nhập, theo một dự án nghiên cứu của Business Insider Intelligence.

Quá trình chuyển đổi số mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam, ví dụ như cung cấp cho người dân các dịch vụ công “một cửa” online, tiếp cận các chính sách của nhà nước, tương tác với những cơ quan quản lý qua các nền tảng công nghệ mà vẫn có thể tiết kiệm được thời gian và tiền bạc… Chuyển đổi số đã đến tận từng ngóc ngách cuộc sống. “Ở công ty của tôi, đến máy pha café hay máy photocopy cũng được chuyển đổi số để thay vì phải xếp hàng, ai cũng chỉ cần mang thẻ nhân viên đến quẹt trên máy photo đó là văn bản mình đăng ký được in ra”, ông Bùi Duy Khánh – Trung tâm An ninh mạng FPT, nêu ví dụ.

Rõ ràng công nghệ làm cuộc sống của con người thuận tiện hơn nhưng sự kết nối giữa các nền tảng, giữa công và tư, giữa cá nhân với cộng đồng… lại hàm chứa cả rủi ro. Tại hội thảo, ông Nguyễn Sơn Hải – Giám đốc Công ty An ninh mạng Viettel, bày tỏ lo lắng: “Cuộc số hóa với những thiết bị ngày một hiện đại sẽ tạo ra lượng dữ liệu khổng lồ với kết nối quan trọng. Sự phức tạp nằm ở chỗ các thiết bị IoT do nhiều hãng cung cấp với các tiêu chuẩn khác nhau, và không phải hãng nào cũng chú trọng vào đảm bảo an toàn thông tin. Vì vậy hacker có thể chiếm quyền của một thiết bị, từ đó tấn công lan rộng và kiểm soát toàn hệ thống. Điều này sẽ tạo ra hậu quả khủng khiếp với bất kỳ hạ tầng nào”. Ông Hải nói như vậy là có lý do bởi nếu chỉ tính riêng trong năm 2020, Viettel từng phải hứng chịu một cuộc tấn công cực lớn với tốc độ 62 Gbps vào hệ thống của mình. Nếu lơ là phòng vệ thì có thể Viettel sẽ chịu nhiều tổn thất bởi họ có một cơ sở dữ liệu rất lớn, mỗi ngày lưu trữ tới 20 triệu terabyte dữ liệu.

3

Chiến dịch tấn công APT của nhóm Goblin Panda được Trung tâm Giám sát An ninh mạng Viettel ghi nhận. Ảnh chụp màn hình.

Những thông số mà Viettel lần đầu tiết lộ tại hội thảo cũng khiến người ta phải giật mình: năm 2019 đã có ba triệu cuộc tấn công từ chối dịch vụ (tấn công đại trà tìm kiếm những máy tính cá nhân được bảo vệ kém) thông qua hạ tầng của nhà mạng này. Quan trọng hơn, Viettel cũng ghi nhận 8 cuộc tấn công có chủ đích APT nhằm vào một nhóm tổ chức, công ty có bảo mật tốt để chiếm quyền kiểm soát hệ thống và 4 chiến dịch tấn công giả mạo (phishing) đã được thực hiện vào tất cả các ngân hàng ở Việt Nam làm ảnh hưởng tới khoảng 2,6 vạn người dùng. Cách thức tấn công cũng thay đổi: trước kia hacker tấn công vào dịch vụ qua trang web và máy chủ của một tổ chức nhưng giờ họ có thể tấn công vào thiết bị đầu cuối, thiết bị IoT hoặc có thể tấn công vào thiết bị của cộng tác viên rồi đi vào mạng lõi thay vì tấn công ngay vào mạng lõi.

Mặt trái của công nghệ còn thể hiện ở chỗ “chuyển đổi số với các công nghệ mới mang đến những nguồn năng lượng lớn nhưng cũng tạo ra vấn đề về an toàn thông tin mà tất cả các bên đều không được phép lơi là” – ông Nguyễn Sơn Hải nhấn mạnh và cảnh báo về một dạng lừa đảo khác ở mức độ tinh vi rất cao đã diễn ra tại Anh bắt nguồn từ công nghệ ‘tổng hợp giọng nói”. Cụ thể, giám đốc của một tổ chức đã nhận được cuộc gọi yêu cầu chuyển tiền từ cấp trên đến một tài khoản lạ mà không hề biết rằng, đó là ‘máy nói’ chứ không phải người.

Việt Nam có thể làm gì để phòng bị?

Những âu lo về khả năng bị tấn công và đánh cắp dữ liệu người dùng hoặc tổ chức, doanh nghiệp đang ngày một nhân lên. Cũng như nhiều quốc gia khác, Việt Nam cần phải có phương án để chủ động ứng phó, đó là vấn đề mà Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng nêu ra “Việt Nam phát triển thịnh vượng trên không gian mạng thì phải biết bảo vệ mình trên không gian mạng”.

Dù ít người biết đến nhưng những công việc như thế đã được các nhà chuyên môn âm thầm thực hiện từ vài năm gần đây và đạt được một số thành công, ví dụ năm 2015, Việt Nam mới làm chủ được 5% các sản phẩm công nghệ an toàn, an ninh mạng nhưng đến tháng 11/2020, con số này đã lên tới 91% và dự kiến đạt 100% vào cuối năm nay. “Rất ít nước trên thế giới làm được điều này, chúng ta rất đáng tự hào về như thế” – Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng dành lời khen cho Cục An toàn thông tin và Hiệp hội An toàn an ninh mạng (Bộ TT&TT).

Dẫu vậy, để có được một hệ thống “phòng thủ” vững vàng, đảm bảo an toàn an ninh mạng, theo quan điểm của ông thì Việt Nam cần phải làm chủ hệ sinh thái và xây dựng một nền công nghiệp an toàn, an ninh mạng hùng mạnh bằng cách làm chủ nền tảng công nghệ và xây dựng đội ngũ chuyên gia xuất sắc, trong đó việc xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi cũng có vai trò ngang tầm với các ngành công nghiệp, bởi “công cụ chỉ xử lý được các lỗ hổng đã biết. Những lỗ hổng chưa biết chỉ có các chuyên gia mới xử lý được. Đội ngũ này có thể nằm ở các doanh nghiệp. Nhưng khi đất nước lâm nguy, thì có thể trưng dụng” và đề nghị Hiệp hội An toàn thông tin và Cục An toàn thông tin xây dựng mạng lưới các chuyên gia an ninh mạng trên toàn quốc.

Công thức kết hợp việc làm chủ công nghệ và xây dựng đội ngũ chuyên gia là bài học Việt Nam đã đúc rút ra được từ lâu. Nhưng ngần ấy là chưa đủ bởi trong bối cảnh mới, khi công cuộc chuyển đổi số được tiến hành với sự ra đời của nhiều công nghệ mới, việc tiếp cận quản lý an toàn thông tin truyền thống như tường lửa đã lỗi thời. Việt Nam cần phải có tư duy dám chấp nhận những điều mới mẻ, ví dụ hướng tới nền tảng mở để làm chủ công nghệ như phân tích của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng “Công nghệ mở để các quốc gia có thể làm chủ công nghệ mình sử dụng. Không còn như trước đây khi chúng ta mua một thiết bị kiểu hộp đen từ quốc gia khác và phó mặc số phận của quốc gia mình cho quốc gia khác”.

Một tư duy mới khác cũng hết sức cần thiết là chủ động hợp tác giữa các đơn vị hoàn toàn khác biệt về “địa vị xuất thân”: đơn vị quản lý, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, công ty tư nhân hay các chuyên gia trong những viện nghiên cứu, trường đại học… “Không một công ty, tổ chức nào có thể giải quyết được mọi vấn đề, mọi bài toán”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nêu.

Các chuyên gia tại hội thảo cũng đều thống nhất, sự kết nối không chỉ tập hợp được sức mạnh về trí tuệ mà còn hội tụ được nhiều giải pháp của nhiều doanh nghiệp khác nhau. Cách làm này đã được chính đại diện của IBM – doanh nghiệp đứng đầu thế giới về bảo mật đề cập đến. Ông Nguyễn Nhật Tân – Trưởng phòng Giải pháp công nghệ (IBM Việt Nam), nói: “Dù IBM đứng đầu về giải pháp bảo mật cho doanh nghiệp nhưng không có nghĩa là chỉ giải pháp của IBM là đủ. IBM vẫn luôn phối hợp với nhiều hãng khác nhau và luôn xây dựng các giải pháp mở API và SPK để sẵn sàng tích hợp với công nghệ của họ, ví dụ chúng tôi đang hợp tác với 16 bên khác để thành lập liên minh về an toàn an ninh mạng và phối hợp với CISCO để tích hợp các giải pháp bảo mật của hai bên với nhau”.

Mặt khác, sự tham gia của những bên khác nhau trong mạng lưới chuyên gia cũng làm hệ sinh thái an toàn an ninh mạng của Việt Nam thêm sức sống. Chuyển đổi số đem lại một thị trường màu mỡ và rộng lớn để mọi thành phần đều có thể tìm được thị phần của mình. Ông Nguyễn Thành Phúc – Cục trưởng Cục An toàn thông tin (Bộ TT&TT) mong muốn thúc đẩy thị trường an ninh mạng vào năm 2021 tăng tối thiểu 30% so với năm 2020 và thúc đẩy tỷ lệ chi cho an ninh mạng tăng 3-4 lần.

Tham vọng hơn, ông Phúc cho biết sau khi thực hiện đánh giá chất lượng các sản phẩm bảo mật theo tiêu chuẩn Việt Nam, đơn vị này sẽ tiến hành xây dựng hệ thống đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế với năng lực đánh giá 300-500 phiên bản hệ thống an toàn thông tin giai đoạn 2021-2025. “Nếu như một phiên bản đánh giá gửi đi nước ngoài mất sáu tháng với chi phí 30.000 USD thì chúng tôi dự kiến trung tâm đánh giá ở Việt Nam sẽ chỉ mất hai tuần và chi phí giảm đi rất nhiều. Như vậy Cục có thể tiết kiệm cho các doanh nghiệp hàng trăm tỷ đồng và dùng chi phí đó đầu tư R&D cho các giải pháp bảo mật” – ông Nguyễn Thành Phúc nói.


Giải pháp bảo mật cho nền tảng điện toán đám mây chưa được chú trọng

Năm 2020, chỉ số an toàn thông tin (ATTT) mà VNISA khảo sát trên nhóm các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước là 58,4%, tăng 28% so với năm 2019. Đây là con số đáng mừng sau hai năm liên tiếp chỉ sô này đi xuống do độ trễ của các cơ quan, doanh nghiệp trong việc thực hiện các yêu cầu bảo mật ở mức độ cao hơn của Luật An Ninh mạng, Nghị định 85/2016/NĐ-CP về bảo đảm an toàn hệ thống theo cấp độ và Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 11930:2017 Công nghệ thông tin-Các kỹ thuật an toàn-Yêu cầu cơ bản về an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ.

Dù tăng trưởng nhưng nếu phân tích 9 nhóm tiêu chí đánh giá chỉ số ATTT thì nhiều đối tượng không đều, đáng lo ngại với 3 điểm yếu là hoạt động thực tiễn bảo đảm ATTT; Tổ chức và nhân lực ATTT; Áp dụng các biện pháp kỹ thuật bảo đảm ATTT.

Hoạt động bình xét danh hiệu Chìa khóa vàng cho các sản phẩm dịch vụ ATTT nội địa được trao cho 45 sản phẩm nhưng điều đáng lo ngại là dù sản phẩm đa dạng nhưng chỉ có một giải pháp trực tiếp cho điện toán đám mây trong bối cảnh Bộ TT&TT coi nền tảng điện toán đám mây là nền tảng viễn thông thế hệ mới.

Ông Vũ Quốc Khánh – Phó chủ tịch Hiệp hội VNISA


Liên kết nguồn tin: https://khoahocphattrien.vn/cong-nghe/an-toan-trong-moi-truong-so/20201210103526354p1c859.htm

 Nguồn: Báo Khoa học và Phát triển

Thông tin liên hệ

CỤC HẢI QUAN TỈNH ĐỒNG THÁP

91 Nguyễn Huệ, P. 1, TP. Cao Lãnh, Đồng Tháp

ĐT: 0277. 3 851247 - Fax: 0277. 3 852004

SĐT đường dây nóng: 19009299

Email: hqdongthap@customs.gov.vn

Tỷ giá tham khảo hôm nay

  • USD:   >>   đồng(VNĐ)
  • EUR:  >>   đồng(VNĐ)
  • GBP:  >>   đồng(VNĐ)
  • HKD:  >>   đồng(VNĐ)
  • JPY:  >>   đồng(VNĐ)
  • AUD:  >>   đồng(VNĐ)
  • SGD:  >>   đồng(VNĐ)
  • THB:  >>   đồng(VNĐ)

Lượt xem website

3503018
Hôm nay
Hôm qua
Tháng này
Tháng trước
Tổng lượt truy cập
770
1723
26172
63374
3503018