Khai báo sai tên hàng, chủng loại, mã số đối với mặt hàng sắt, thép nhập khẩu để gian lận trốn thuế nhập khẩu và thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá là những thủ đoạn mới đây bị lực lượng Hải quan “khai quật”.

Qua công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại thời gian vừa qua, Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan đã phát hiện một số doanh nghiệp nhập khẩu mặt hàng thép không hợp kim, dạng cuộn, cán phẳng khai báo sai tên hàng, chủng loại, mã số hàng hóa nhập khẩu để gian lận trốn thuế nhập khẩu và thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá. Các dấu hiệu thường gặp gồm:

Thứ nhất, hàng hóa nhập khẩu của các doanh nghiệp thường khai báo vào nhóm mã 7208, 7210 nhưng khai vào các mã hàng có mức thuế thấp (thuế suất nhập khẩu: 0% và 5% theo Biểu thuế ưu đãi) mà không khai đúng vào các dòng mã số HS có thuế suất nhập khẩu cao (thuế nhập khẩu: 10% theo Biểu thuế ưu đãi).

Thứ hai, hàng hóa nhập khẩu của các doanh nghiệp khai báo vào các mã HS thuộc  nhóm mã 7208, 7210  nhưng có mức thuế thấp (thuế suất nhập khẩu: 0% và 5% theo Biểu thuế ưu đãi) mà không khai đúng vào các dòng mã số HS có thuế suất nhập khẩu cao hơn để tránh khai vào nhóm mã số 7207 phải chịu thuế tự vệ 15,3%, hoặc các mã HS cùng thuộc nhóm mã số 7210 nhưng phải chịu thuế chống bán phá giá từ 3,17% đến 38,34%.

Thứ ba, hàng hóa khai báo là hàng loại 2 nhưng trên mác thép, trên hồ sơ hải quan không thể hiện là hàng loại 2, việc này có dấu hiệu các doanh nghiệp lợi dụng khai phẩm chất hàng hóa loại 2 để khai báo trị giá tính thuế thấp, nhằm trốn thuế qua giá.

Thứ tư, hàng hóa khai báo là hàng mới 100% nhưng thực tế doanh nghiệp nhập khẩu hàng đã qua sử dụng, hàng tận dụng từ các nhà máy thép tại nước ngoài để nhập về, đã dạng về chủng lợi, kích thước trên cùng một lô hàng được đóng trong container, nhằm tránh bị quản lý chính sách mặt hàng đối với sắt, thép phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất. 

Trước tình hình trên, nhằm tăng cường công tác quản lý, kịp thời phát hiện, xử lý các doanh nghiệp nhập khẩu mặt hàng nêu trên có dấu hiệu vi phạm pháp luật về khai báo sai tên hàng, chủng loại, mã số hàng hóa nhập khẩu để gian lận trốn thuế nhập khẩu và thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá, lãnh đạo Tổng cục Hải quan vừa có yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh, thành phố tăng cường kiểm soát mặt hàng sắt, thép nhập khẩu.

Theo đó, Lãnh đạo Tổng cục yêu cầu các đơn vị chỉ đạo các Chi cục Hải quan tiến hành rà soát các lô hàng có dấu hiệu rủi ro để lựa chọn các lô hàng/ tờ khai trọng điểm, chuyển luồng kiểm tra thực tế hàng hóa; thực hiện tham vấn giá đối với các lô hàng khai báo là hàng loại 2 nhưng trên hồ sơ, chứng từ kèm theo bộ hồ sơ hải quan không thể hiện phẩm cấp hàng hóa loại 2.

Bên cạnh đó, căn cứ nội dung cảnh báo, Tổng cục Hải quan yêu cầu các Cục Hải quan tỉnh, thành phố thực hiện tại địa bàn quản lý nhằm phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả và chịu trách nhiệm trước lãnh đạo Tổng cục Hải quan nếu không làm hết trách nhiệm, để xảy ra các vụ việc buôn lậu, gian lận liên quan tới các hành vi nêu trên tại địa bàn được giao quản lý.

Lãnh đạo Tổng cục Hải quan giao Cục Thuế Xuất nhập khẩu khẩn trương bổ sung các nhóm hàng này vào Danh mục rủi ro hàng hóa rủi ro về phân loại và áp dụng mức thuế làm cơ sở để kiểm tra phân loại và áp dụng mức thuế đối với mặt hàng thép nêu trên; Cục Điều tra chống buôn lậu đảm nhiệm rà soát các doanh nghiệp trọng điểm nhập khẩu các mặt hàng nêu trên, phối hợp với Cục Quản lý rủi ro, Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục hải quan để chuyển luồng, kiểm tra thực tế hàng hóa.

Nguồn tin từ Báo Hải quan (http://www.baohaiquan.vn).

Trong tháng 10/2020 vừa qua, Chính phủ đã ban hành 3 nghị định có nội dung liên quan đến các lĩnh vực hoạt động của ngành Tài chính. Đó là Nghị định 125/NĐ-CP, Nghị định 126/NĐ-CP và Nghị định 128/2020/NĐ-CP. Cả 3 Nghị định này đều có hiệu lực từ tháng 12/2020.

Nghị định 125/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn ban hành ngày 19/10/2020 và có hiệu lực 5/12/2020.

Một số nội dung đáng chú ý:

Nâng mức xử phạt vi phạm hành chính về thuế

Nghị định 125 điều chỉnh tăng cao hơn mức xử phạt đối với một số hành vi vi phạm thủ tục thuế so với quy định tại Nghị định số 129/2013/NĐ-CP. Đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu thuế, mức phạt tiền cụ thể được quy định chi tiết tùy vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Cụ thể, các vi phạm hành chính với số thuế từ 100 triệu đồng trở lên hoặc giá trị hàng hóa từ 500 triệu đồng trở lên được xác định là vi phạm hành chính về thuế có quy mô lớn và vi phạm hành chính từ 10 số hóa đơn trở lên được xác định là vi phạm hành chính về hóa đơn có quy mô lớn. Nguyên tắc xác định mức phạt tiền khi có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được tính tăng hoặc giảm 10% mức phạt trung bình của khung phạt tiền.

Với nhóm hành vi vi phạm thủ tục thuế, mức phạt tối thiểu là 500.000 đồng và mức tối đa là 25 triệu đồng. Trong đó, mức phạt tiền sẽ tăng mạnh đối với nhóm hành vi vi phạm về thời hạn đăng ký thuế, chậm nộp hồ sơ khai thuế.

Nghị định cũng quy định chi tiết về mức phạt tiền đối với hành vi trốn thuế theo tiêu chí tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và phù hợp với nguyên tắc của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Cụ thể: phạt 1 lần số thuế trốn đối với hành vi trốn thuế có từ 1 tình tiết giảm nhẹ trở lên; phạt 1,5 lần tính trên số thuế trốn đối với hành vi trốn thuế mà không có tình tiết giảm nhẹ hoặc tình tiết tăng nặng. Đối với các trường hợp trốn thuế có tình tiết tăng nặng sẽ bị phạt từ 2 đến 3 lần.

Bổ sung một số hành vi vi phạm về hóa đơn điện tử

Nghị định 125 sửa đổi một số nội dung và bổ sung quy định về hành vi vi phạm quy định về hóa đơn điện tử như: vi phạm quy định về tiêu hủy hóa đơn, lập hóa đơn điện tử từ máy tính tiền không có kết nối, chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan Thuế quá thời hạn quy định; chuyển bảng tổng hợp dữ liệu hóa đơn điện tử không đầy đủ số lượng hóa đơn đã lập trong kỳ; cung cấp phần mềm hóa đơn điện tử không đảm bảo nguyên tắc theo quy định của pháp luật về hóa đơn.

Nghị định cũng điều chỉnh giảm mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về mất, cháy, hỏng hóa đơn trước khi thông báo phát hành hoặc hóa đơn mua của cơ quan Thuế nhưng chưa lập từ 5 triệu đến 18 triệu đồng xuống còn từ 1 triệu đồng đến 8 triệu đồng.

Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý thuế ban hành ngày 19/10 có hiệu lực thi hành từ 5/12/2020.

Một số nội dung đáng chú ý:

Ngân hàng cung cấp thông tin cho cơ quan Thuế

Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định: theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế, ngân hàng thương mại phải cung cấp thông tin tài khoản thanh toán của từng người nộp thuế bao gồm tên chủ tài khoản, số hiệu tài khoản theo mã số thuế đã được cơ quan quản lý thuế cấp, ngày mở tài khoản, ngày đóng tài khoản.

Bên cạnh đó, ngân hàng thương mại cung cấp thông tin giao dịch qua tài khoản, số dư tài khoản, số liệu giao dịch theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế để phục vụ cho mục đích thanh tra, kiểm tra xác định nghĩa vụ thuế phải nộp và thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế theo quy định của pháp luật về thuế.

Ngoài ra, ngân hàng thương mại thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân ở Việt Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật Quản lý thuế.

Một số trường hợp được khai thuế giá trị gia tăng theo quý

Nghị định 126 quy định: người nộp thuế mới bắt đầu hoạt động, kinh doanh thì được lựa chọn khai thuế giá trị gia tăng theo quý. Sau khi sản xuất kinh doanh đủ 12 tháng thì từ năm dương lịch liền kề tiếp theo năm đã đủ 12 tháng sẽ căn cứ theo mức doanh thu của năm dương lịch trước liền kề (đủ 12 tháng) để thực hiện khai thuế giá trị gia tăng theo kỳ tính thuế tháng hoặc quý.

Người nộp thuế tự xác định thuộc đối tượng khai thuế theo quý để thực hiện khai thuế theo quy định. Với trường hợp người nộp thuế tự phát hiện không đủ điều kiện khai thuế theo quý thì người nộp thuế phải thực hiện khai thuế theo tháng kể từ tháng đầu của quý tiếp theo. Trường hợp cơ quan Thuế phát hiện người nộp thuế không đủ điều kiện khai thuế theo quý thì cơ quan Thuế phải xác định lại số tiền thuế phải nộp theo tháng tăng thêm so với số người nộp thuế đã kê khai và phải tính tiền chậm nộp theo quy định.

Cơ quan quản lý cũng phải cung cấp thông tin cho cơ quan Thuế

Điều 26 của Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định, cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thuế, trong đó, cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan đăng ký hợp tác xã phải gửi thông tin cấp mới; thay đổi; tạm ngừng kinh doanh; tiếp tục hoạt động sau tạm ngừng kinh doanh; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp... cho cơ quan quản lý thuế.

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định trách nhiệm cụ thể trong việc cung cấp thông tin của Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.. liên quan tới lĩnh vực các Bộ này quản lý.

NĐ 128/NĐ-CP ban hành ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan có lực thi hành từ 10/12/2020.

Một số nội dung đáng chú ý:

Phạt tối đa 50 triệu đồng nếu không khai, khai sai số tiền, vàng mang ra nước ngoài vượt quá mức quy định.

Nghị định 128/NĐ_CP quy định hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả; thẩm quyền xử phạt; thủ tục xử phạt vi phạm hành chính; việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan. Trong đó, đáng chú ý là quy định mức phạt đối với hành vi không khai, khai sai số tiền, vàng mang ra nước ngoài vượt quá mức quy định.

Cụ thể, phạt 1 - 3 triệu đồng nếu số tiền, vàng vượt quá có giá trị 5 - 10 triệu đồng; phạt 5 - 15 triệu đồng nếu số tiền, vàng vượt quá có giá trị 30 - dưới 70 triệu đồng; phạt 15 - 25 triệu đồng nếu số tiền, vàng vượt quá có giá trị 70 - dưới 100 triệu đồng; phạt từ 30 - 50 triệu đồng nếu số tiền, vàng vượt quá có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khai sai số lượng vận đơn cũng bị phạt

Nghị định 128 quy định doanh nghiệp bị phạt từ 5 – 10 triệu đồng đối với hành vi khai sai số lượng vận đơn chủ, vận đơn thứ cấp trên bản khai hàng hóa của hồ sơ phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; khai sai số lượng kiện hành lý trên bản khai hành lý của hồ sơ phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

Nguồn tin từ Báo Hải quan (http://www.baohaiquan.vn/).

Liên quan đến thực hiện Nghị định 102/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam, Tổng cục Hải quan tiếp tục hướng dẫn tháo gỡ một số vướng mắc của cục hải quan các tỉnh, thành phố.

Cụ thể, một số đơn vị hải quan địa phương phản ảnh vướng mắc khi thực hiện Điều 7 Nghị định 102/2020/NĐ-CP. Theo quy định về cấp phép FLEGT tại Điều 14 của Nghị định số 102/2020/NĐ-CP thì: Giấy phép FLEGT được cấp cho một lô hàng gỗ hợp pháp thuộc Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này của một chủ gỗ xuất khẩu hoặc tạm nhập, tái xuất đến cửa khẩu nhập khẩu đầu tiên vào thị trường EU; một lô hàng gỗ xuất khẩu vào thị trường EU chỉ được cấp một giấy phép FLEGT và được cấp trước thời điểm đăng ký tờ khai hải quan.

Nhưng theo quy định tại Điều 7 của Nghị định thì lô hàng nhập khẩu từ quốc gia đã ký kết Hiệp định gỗ hợp pháp với EU và đang vận hành hệ thống cấp phép FLEGT thì phải nộp bản sao giấy phép FLEGT xuất khẩu do cơ quan có thẩm quyền nước xuất khẩu cấp.

Như vậy, được hiểu là gỗ nhập khẩu vào Việt Nam từ tất cả các nước (14 nước) ký kết Hiệp định đều phải nộp giấy phép FLEGT hay chỉ nhập khẩu từ các nước EU mới phải nộp? Hiện nay, chưa có danh sách các quốc gia đã ký kết Hiệp định gỗ hợp pháp với EU và đang vận hành hệ thống cấp phép FLEGTb để cơ quan Hải quan có cơ sở thực hiện khoản 2b Điều 7 Nghị định 102/2020/NĐ-CP.

Trả lời vướng mắc trên, Tổng cục Hải quan cho biết theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị định số 102/2020/NĐ-CP quy định về hồ sơ gỗ nhập khẩu thì việc nộp bản sao giấy phép FLEGT xuất khẩu do cơ quan có thẩm quyền nước xuất khẩu cấp chỉ áp dụng đối với gỗ nhập khẩu từ quốc gia đã ký kết Hiệp định gỗ hợp pháp với EU và đang vận hành hệ thống cấp phép FLEGT.

Danh sách các quốc gia đã ký kết Hiệp định gỗ hợp pháp với EU và đang vận hành hệ thống cấp phép FLEGT hiện đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng và sẽ ban hành trong thời gian tới. Chính vì vậy, trước mắt, cục hải quan tỉnh, thành phố thực hiện theo hướng dẫn của Tổng cục Hải quan tại công văn số 7131/TCHQ-GSQL ngày 6/11/2020.

Hải quan địa phương phản ánh, Mục C Mẫu số 03 quy định chủ gỗ phải kê khai một trong các tài liệu về nguồn gốc khai thác hợp pháp và xuất trình kèm theo các tài liệu kê khai cụ thể. Tuy nhiên hiện nay chưa có thông tin, hướng dẫn các tài liệu nêu trên để cơ quan Hải quan đối chiếu, kiểm tra.

Trả lời vướng mắc, Tổng cục Hải quan đề nghị đơn vị kiểm tra đối chiếu tính phù hợp giữa nội dung kê khai của người khai hải quan với các chứng từ, tài liệu do người khai hải quan kê khai và nộp.

Người khai hải quan chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự xác thực của nội dung đã khai và các chứng từ đã nộp, xuất trình cho cơ quan Hải quan.

Nguồn tin trích từ Báo Hải quan (http://www.baohaiquan.vn/)

 Bộ Tài chính xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn về thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa để áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam – Liên minh châu Âu

Nội dung quan trọng tại dự thảo Thông tư đang được lấy ý kiến là thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa.

Cụ thể, tại Điều 3 dự thảo Thông tư xây dựng theo hướng: “Người khai hải quan nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa tại thời điểm làm thủ tục hải quan theo quy định tại Điều 7 Thông tư 38/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Trường hợp chưa có chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa tại thời điểm làm thủ tục hải quan để áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt, người khai hải quan phải khai chậm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ trên tờ khai hải quan nhập khẩu và được khai bổ sung, nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong thời hạn không quá 2 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan.

Các nội dung khác về kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành”.

Để đảm bảo nội dung quy định tại dự thảo thông tư phù hợp với các quy định hiện hành và đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước đối với kiểm tra xác định xuất xứ hàng hóa và phù hợp với cam kết quốc tế, Tổng cục Hải quan đang lấy ý kiến rộng rãi các đơn vị có liên quan, các hiệp hội doanh nghiệp.

Nguồn tin trích từ Báo Hải quan (http://www.baohaiquan.vn).

Cục Hải quan các tỉnh, thành phố chỉ đạo các chi cục hải quan khi thực hiện thủ tục nhập khẩu phế liệu theo các Giấy xác nhận được gia hạn phải đối chiếu thông tin về khối lượng, chủng loại phế liệu được gia hạn.

Đó là hướng dẫn của Tổng cục Hải quan đối với cục hải quan các tỉnh, thành phố liên quan đến gia hạn Giấy xác nhận về bảo vệ môi trường trong nhập khaair phế liệu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất.

Trước đó, ngày 29/10, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành //haiquanonline.com.vn/apiservice@/fileclick&i=284765">Thông báo số 76/TB-BTNMT về việc gia hạn Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất theo nội dung Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8/2020 số 129/NQ-CP ngày 11/9/2020 của Chính phủ.

Để thống nhất thực hiện, Tổng cục Hải quan cho biết đã thực hiện điều chỉnh gia hạn đối với các Giấy xác nhận đến hết 31/12/2021 và khối lượng phế liệu được phép nhập khẩu trong thời gian được phép gia hạn trên Phần mềm quản lý phế liệu nhập khẩu Escrap (thời điểm thực hiện điều chinh là ngày bắt đầu được gia hạn theo Thông báo số 76/TB-BTNMT).

Cục hải quan các tỉnh, thành phố chỉ đạo các chi cục hải quan khi thực hiện thủ tục nhập khẩu phế liệu theo các Giấy xác nhận được gia hạn phải đối chiếu thông tin về khối lượng, chủng loại phế liệu được gia hạn giữa Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông báo số 76/TB-BTNMT và khối lượng, chủng loại phế liệu được gia hạn trên Phần mềm quản lý phế liệu nhập khẩu Escrap; trường hợp có sự chênh lệch, không phù hợp thì báo cáo Tổng cục Hải quan để xem xét điều chỉnh lại.

Tại Thông báo số 76/TB-BTNMT nêu: Gia hạn đến hết 31/12/2021 đối với Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất (viết tắt là Giấy xác nhận) đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp cho doanh nghiệp trực tiếp sản xuất thuộc các trường hợp quy định tại khoản 39 Điều 3 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP, đồng thời không phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt nếu không thay đổi địa điểm, tăng quy mô công suất theo quy định tại Điều 20 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Danh sách các doanh nghiệp có Giấy xác nhận được gia hạn tại Phụ lục 1 kèm theo Thông báo số 76/TB-BTNMT.

Các doanh nghiệp có Giấy xác nhận thuộc các trường hợp quy định tại khoản 39 Điều 3 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP và Mục 14 Nghị quyết số 129/NQ-CP đã gửi hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại Giấy xác nhận và đã được cơ quan nhà nước kiểm tra (trước thời điểm ban hành Nghị quyết số 129/NQ-CP), phải hoàn thiện các nội dung theo thông báo kết quả kiểm tra để được cấp lại, gia hạn Giấy xác nhận theo quy định.

Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát, thực hiện gia hạn đến hết ngày 31/12/2021 đối với Giấy xác nhận đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp cho doanh nghiệp trực tiếp sản xuất (trừ trường hợp đã gửi hồ sơ đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp lại Giấy xác nhận, đã kiểm tra thực tế, đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ hoặc đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp lại Giấy xác nhận) thuộc các trường hợp quy định tại khoản 39 Điều 3 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP (Giấy xác nhận hết hạn sau ngày 1/7/2019, thời điểm Nghị định số 40/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành) và Mục 14 Nghị quyết số 129/NQ-CP.

Việc gia hạn Giấy xác nhận phải bảo đảm đầy đủ thông tin được hướng dẫn tại Phụ lục 2 kèm theo Thông báo này. Văn bản gia hạn Giấy xác nhận của Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được gửi tới Cổng thông tin một cửa quốc gia, Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính), Bộ Tài nguyên và Môi trường và doanh nghiệp được gia hạn Giấy xác nhận; đồng thời đảm bảo công khai, minh bạch trên các phương tiện thông tin đại chúng cho doanh nghiệp biết, thực hiện và không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính theo đúng tinh thần Nghị quyết số 129/NQ-CP.

Các doanh nghiệp có Giấy xác nhận được gia hạn phải chịu trách nhiệm và đáp ứng đầy đủ các điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất; thực hiện đầy đủ quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, nhập khẩu và sử dụng phế liệu nhập khẩu; bảo đảm số lượng, tình trạng hoạt động bình thường của máy móc, thiết bị sản xuất, tái chế phế liệu và các công trình bảo vệ môi trường; chất thải sau xử lý phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường, không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân; chỉ được nhập khẩu và sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất tại cơ sở sản xuất theo đúng nhu cầu và phải phù hợp với công suất, máy móc thiết bị sản xuất, tái chế; nhập khẩu đúng chủng loại, khối lượng phế liệu được phép trong thời gian gia hạn.

N.Linh

Nguồn tin trích từ Báo Hải quan (http://www.baohaiquan.vn).

Tổng cục Hải quan mới ban hành Công văn số 7373/TCHQ-TXNK. Theo đó từ ngày 23/11/2020 Tổng cục Hải quan chính thức Triển khai Hệ thống miễn, giảm, hoàn, không thu thuế, xử lý tiền thuế nộp thừa điện tử.

Hệ thống miễn, giảm, hoàn, không thu thuế, xử lý tiền thuế nộp thừa điện tử (viết tắt là Hệ thống MGH) được xây dựng theo phê duyệt tại Quyết định số 3535/QĐ-TCHQ ngày 27/11/2018 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.

Hệ thống được áp dụng thí điểm từ ngày 1/9/2020 tại Cục Hải quan Thành phố Hà Nội và Cục Hải quan tỉnh Bắc Ninh. Trong hơn 2 tháng thử nghiệm, Hệ thống MGH đã cho thấy kết quả tích cực, đáp ứng được các yêu cầu đặt ra.

Do đó, Tổng cục Hải quan quyết định áp dụng triển khai trên toàn quốc từ ngày 23/11/2020. Riêng phân hệ xử lý miễn thuế hàng hóa nhập khẩu phục vụ trực tiếp an ninh, quốc phòng, Tổng cục Hải quan sẽ có thông báo triển khai sau.

Việc triển khai Hệ thống miễn, giảm, hoàn, không thu thuế, xử lý tiền thuế nộp thừa điện tử trên toàn quốc sẽ góp phần đẩy nhanh công tác xử lý miễn, giảm, hoàn thuế chính xác tại các đơn vị trực tiếp thực hiện nghiệp vụ.

Bên cạnh đó, Hệ thống MGH cũng giảm thời gian xử lý nghiệp vụ hải quan, theo hướng tự động xác định tờ khai có hàng hóa tạm nhập tái xuất, có cơ chế kiểm tra và đưa ra cảnh báo cho cán bộ hải quan đối với những tờ khai sắp hết thời gian ân hạn, hoặc quá thời gian ân hạn mà chưa làm thủ tục liên quan...

Để tham gia hệ thống MGH, doanh nghiệp sử dụng tài khoản đang sử dụng khai báo trên hệ thống VNACCS để đăng nhập vào Hệ thống tại địa chỉ https://mgh.customs.gov.vn hoặc https://mgh.customs.gov.vn/MGHTDN. Doanh nghiệp có thể khai thác tài liệu hướng dẫn sử dụng ngay sau khi truy cập vào Hệ thống.

Để triển khai Hệ thống, Tổng cục Hải quan yêu cầu các Cục Hải quan tỉnh, thành phố nghiên cứu kỹ Quyết định 3535/QĐ-TCHQ ngày 27/11/2018 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về việc phê duyệt đề án “miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế và xử lý tiền thuế nộp thừa điện tử” để triển khai thực hiện công tác miễn, giảm, hoàn, không thu thuế, xử lý tiền thuế nộp thừa trên Hệ thống MGH đến từng cán bộ, công chức và các bộ phận liên quan trong đơn vị.

Đồng thời Tổng cục Hải quan cũng yêu cầu các Cục Hải quan tỉnh, thành phố thành lập Tổ hỗ trợ triển khai Hệ thống MGH tại đơn vị và thông báo thông tin của Tổ hỗ trợ đến cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn quản lý.

Tổng cục Hải quan yêu cầu các đơn vị trực thuộc cần khẩn trương thông báo, tuyên truyền và hướng dẫn cho doanh nghiệp biết để phối hợp thực hiện công tác miễn, giảm, hoàn, không thu thuế, xử lý tiền thuế nộp thừa trên Hệ thống MGH.

Trước đó, ngày 18/11/2020, Tổng cục Hải quan đã ký quyết định số 3204/QĐ-TCHQ thành lập Tổ triển khai Hệ thống MGH và Quyết định số 3205/QĐ-TCHQ thành lập Tổ hỗ trợ triển khai Hệ thống MGH tại cơ quan Tổng cục.

Như vậy, ngoài bộ phận hỗ trợ 24/7 vẫn được duy trì, Doanh nghiệp có thể liên hệ Tổ hỗ trợ triển khai Hệ thống MGH để được hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp trong trường có vướng mắc phát sinh.

Việc chính thức triển khai Hệ thống MGH là bước lớn trong cải cách thủ tục hành chính mà Tổng cục Hải quan áp dụng nhằm giải quyết nhiều vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện công tác miễn, giảm, hoàn, không thu thuế, xử lý tiền thuế nộp thừa. Đồng thời Hệ thống MGH còn giúp giảm chi phí cả về thời gian lẫn kinh phí đi lại cho cộng đồng doanh nghiệp.

Nguồn tin từ Cổng thông tin điện tử Hải quan (www.customs.gov.vn).

 

Bạn đánh giá thế nào về chất lượng phục vụ của Hải quan Đồng Tháp?
  • Tất cả các đánh giá: (0%)
  • Tất cả các đánh giá: (0%)
  • Tất cả các đánh giá: (0%)
  • Tất cả các đánh giá: (0%)
  • Tất cả các đánh giá: (0%)
Tổng số:
Đánh giá đầu tiên:
Đánh giá sau cùng:

Thông tin liên hệ

CỤC HẢI QUAN TỈNH ĐỒNG THÁP

91 Nguyễn Huệ, P. 1, TP. Cao Lãnh, Đồng Tháp

ĐT: 0277. 3 851247 - Fax: 0277. 3 852004

SĐT đường dây nóng: 19009299

Email: hqdongthap@customs.gov.vn

Tỷ giá tham khảo hôm nay

  • USD:   >>   đồng(VNĐ)
  • EUR:  >>   đồng(VNĐ)
  • GBP:  >>   đồng(VNĐ)
  • HKD:  >>   đồng(VNĐ)
  • JPY:  >>   đồng(VNĐ)
  • AUD:  >>   đồng(VNĐ)
  • SGD:  >>   đồng(VNĐ)
  • THB:  >>   đồng(VNĐ)

Lượt xem website

3345666
Hôm nay
Hôm qua
Tháng này
Tháng trước
Tổng lượt truy cập
938
1240
26771
69320
3345666